Điều 16 Bộ Luật Hình sự 2015: Tự ý Nửa Chừng Chấm Dứt Việc Phạm Tội

Phân tích Điều 16 Bộ Luật Hình sự 2015: Tự ý Nửa Chừng Chấm Dứt Việc Phạm Tội

Trong hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam, Điều 16 Bộ Luật Hình sự 2015 quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Đây là một quy định quan trọng, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, khuyến khích họ từ bỏ ý định phạm tội đến cùng. Bài viết này sẽ phân tích và bình luận khoa học về điều khoản này, đồng thời đưa ra các ví dụ minh họa dễ hiểu.

Khái niệm Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Việc Phạm Tội

Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được hiểu là trường hợp một người đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội, nhưng tự nguyện chấm dứt việc thực hiện tội phạm đó, mặc dù có điều kiện để tiếp tục thực hiện.

Các Yếu Tố Cấu Thành Việc Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Việc Phạm Tội

Để được coi là tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, cần đáp ứng các yếu tố sau:

  • Đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội: Người đó đã có hành vi cụ thể, trực tiếp xâm hại hoặc đe dọa xâm hại đến khách thể được pháp luật bảo vệ.
  • Tự nguyện chấm dứt: Việc chấm dứt phải xuất phát từ ý chí chủ quan của người phạm tội, không bị ép buộc hoặc cản trở bởi các yếu tố bên ngoài.
  • Có điều kiện để tiếp tục: Người phạm tội vẫn còn khả năng để thực hiện tội phạm đến cùng.

Hậu Quả Pháp Lý của Tự Ý Nửa Chừng Chấm Dứt Việc Phạm Tội

Theo quy định của Điều 16 Bộ Luật Hình sự 2015, người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội định thực hiện; nếu hành vi thực tế đã thực hiện chứa đựng một tội phạm khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm này.

Ví Dụ Minh Họa

Ví dụ 1: A đột nhập vào nhà B với ý định trộm cắp tài sản. Sau khi phá khóa và vào được nhà, A cảm thấy hối hận và quyết định không lấy gì rồi bỏ đi. Trong trường hợp này, A đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội trộm cắp. Tuy nhiên, A vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm chỗ ở của người khác (nếu có đủ yếu tố cấu thành tội này).

Ví dụ 2: C dùng dao đâm D với ý định giết người. Sau khi đâm một nhát, C thấy D bị thương nặng và hối hận, liền đưa D đi cấp cứu. D được cứu sống. Trong trường hợp này, C đã tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội giết người. Tuy nhiên, C vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác.

Bình Luận Khoa Học về Điều 16 Bộ Luật Hình sự 2015

Quy định về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội thể hiện tính nhân đạo và hướng thiện của pháp luật hình sự Việt Nam. Nó khuyến khích người phạm tội từ bỏ hành vi phạm tội, giảm thiểu thiệt hại cho xã hội. Tuy nhiên, việc áp dụng điều khoản này cần được xem xét cẩn trọng, đảm bảo các yếu tố cấu thành được chứng minh rõ ràng, tránh trường hợp lạm dụng để trốn tránh trách nhiệm hình sự.

Việc xác định tính tự nguyện trong việc chấm dứt hành vi phạm tội là một thách thức lớn trong thực tiễn xét xử. Cần phải xem xét kỹ lưỡng các chứng cứ, lời khai để xác định liệu người phạm tội thực sự tự nguyện từ bỏ hay do các yếu tố khách quan tác động.

Hy vọng bài viết này đã cung cấp cho bạn đọc cái nhìn tổng quan và sâu sắc về Điều 16 Bộ Luật Hình sự 2015 về tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Việc nắm vững các quy định của pháp luật sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của mình, cũng như góp phần xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật.

0.0 sao của 0 đánh giá

Bài viết liên quan

Những lưu ý khi sử dụng CMND/CCCD

1. Đối tượng được cấp CMND/CCCD

Theo đó, đối tượng được cấp CMND  là Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên, đang cư trú trên lãnh thổ Việt Nam (sau đây gọi tắt là công dân) có nghĩa vụ đến cơ quan công an nơi đăng ký hộ khẩu thường trú làm thủ tục cấp CMND theo quy định.

Từ ngày 01/01/2016, khi Luật CCCD 2014 bắt đầu có hiệu lực, các trường hợp CMND trước đó hết thời hạn sẽ chuyển qua làm thủ tục cấp mới CCCD.

Công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên đã đăng ký thường trú được cấp thẻ CCCD. 

2. Thời hạn sử dụng

– CMND có giá trị sử dụng 15 năm. Mỗi công dân Việt Nam chỉ được cấp một CMND và có một số CMND riêng. Nếu có sự thay đổi hoặc bị mất CMND thì được làm thủ tục đổi, cấp lại một giấy CMND khác nhưng số ghi trên CMND vẫn giữ đúng theo số ghi trên CMND đã cấp.

– CCCD phải được đổi khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi. Trường hợp thẻ CCCD được cấp, đổi, cấp lại trong thời hạn 2 năm trước tuổi quy định này thì vẫn có giá trị sử dụng đến tuổi đổi thẻ tiếp theo.

3. Giá trị sử dụng của CMND và CCCD

Công dân được sử dụng CMND của mình làm chứng nhận nhân thân và phải mang theo khi đi lại, giao dịch; xuất trình khi người có thẩm quyền yêu cầu kiểm tra, kiểm soát. Số CMND được dùng để ghi vào một số loại giấy tờ khác của công dân. Nghiêm cấm việc làm giả, tẩy xóa, sửa chữa, cho thuê, cho mượn, thế chấp… CMND.

Nghiêm cấm một người sử dụng hai hoặc nhiều CMND.

Thẻ CCCD là giấy tờ tùy thân của công dân Việt Nam có giá trị chứng minh về CCCD của người được cấp thẻ để thực hiện các giao dịch trên lãnh thổ Việt Nam.

– Thẻ CCCD được sử dụng thay cho việc sử dụng hộ chiếu trong trường hợp Việt Nam và nước ngoài ký kết điều ước hoặc thỏa thuận quốc tế cho phép công dân nước ký kết được sử dụng thẻ CCCD thay cho việc sử dụng hộ chiếu trên lãnh thổ của nhau.

– Khi công dân xuất trình thẻ CCCD theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền đó không được yêu cầu công dân xuất trình thêm giấy tờ khác chứng nhận các thông tin đã được xác minh khi khai báo để làm thẻ căn cước.

– Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích chính đáng của người được cấp thẻ CCCD theo quy định của pháp luật.

4. Trường hợp đổi, cấp lại CMND/CCCD

4.1 Đối với CMND:

Những trường hợp sau đây phải làm thủ tục đổi CMND:

– CMND hết thời hạn sử dụng;

– CMND hư hỏng không sử dụng được;

– Thay đổi họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh;

– Thay đổi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú ngoài phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

– Thay đổi đặc điểm nhận dạng.

Trường hợp bị mất CMND thì phải làm thủ tục cấp lại.

4.2. Đối với CCCD:

Thẻ CCCD được đổi trong các trường hợp sau đây:

– Các trường hợp khi công dân đủ 25 tuổi, đủ 40 tuổi và đủ 60 tuổi

– Thẻ bị hư hỏng không sử dụng được;

– Thay đổi thông tin về họ, chữ đệm, tên; đặc điểm nhân dạng;

– Xác định lại giới tính, quê quán;

– Có sai sót về thông tin trên thẻ CCCD;

– Khi công dân có yêu cầu.

Thẻ CCCD được cấp lại trong các trường hợp sau đây:

– Bị mất thẻ CCCD;

– Được trở lại quốc tịch Việt Nam theo quy định của Luật quốc tịch Việt Nam.

5. Những trường hợp sẽ bị xử phạt khi sử dụng CMND/CCCD

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

– Không xuất trình CMND khi có yêu cầu kiểm tra của người có thẩm quyền;

– Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về cấp mới, cấp lại, đổi CMND;

– Không thực hiện đúng quy định của pháp luật về thu hồi, tạm giữ CMND khi có yêu cầu của người có thẩm quyền.

Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

– Sử dụng CMND của người khác để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật;

– Tẩy xóa, sửa chữa CMND;

– Thuê, mượn hoặc cho người khác thuê, mượn CMND để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.

Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

– Khai man, giả mạo hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp CMND;

– Làm giả CMND;

– Sử dụng CMND giả.

Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với hành vi thế chấp CMND để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật

Cách tính thuế thu nhập cá nhân chuẩn nhất 2025

Hiện tại, việc tính thuế thu nhập cá nhân (TNCN) ở Việt Nam vẫn đang áp dụng theo Luật Thuế thu nhập cá nhân 2007, Luật sửa đổi các Luật về thuế 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành (như Thông tư 111/2013/TT-BTC, Thông tư 80/2021/TT-BTC). Chưa có văn bản pháp luật nào ban hành Luật Thuế TNCN mới.

Cách tính thuế TNCN sẽ phụ thuộc vào đối tượng nộp thuế và loại thu nhập. Dưới đây là các trường hợp phổ biến:

Điều 114 Bộ luật dân sự 2015

Điều 114. Vật đồng bộ

Vật đồng bộ là vật gồm các phần hoặc các bộ phận ăn khớp, liên hệ với nhau hợp thành chỉnh thể mà nếu thiếu một trong các phần, các bộ phận hoặc có phần hoặc bộ phận không đúng quy cách, chủng loại thì không sử dụng được hoặc giá trị sử dụng của vật đó bị giảm sút.

Khi thực hiện nghĩa vụ chuyển giao vật đồng bộ thì phải chuyển giao toàn bộ các phần hoặc các bộ phận hợp thành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Điều 36 Bộ luật dân sự 2015

Chi tiết điều 36, Bộ luật dân sự 2015 như sau :

Điều 36 : Quyền xác định lại giới tính 

1. Cá nhân có quyền xác định lại giới tính.

Việc xác định lại giới tính của một người được thực hiện trong trường hợp giới tính của người đó bị khuyết tật bẩm sinh hoặc chưa định hình chính xác mà cần có sự can thiệp của y học nhằm xác định rõ giới tính.

2. Việc xác định lại giới tính được thực hiện theo quy định của pháp luật.

3. Cá nhân đã thực hiện việc xác định lại giới tính có quyền, nghĩa vụ đăng ký thay đổi hộ tịch theo quy định của pháp luật về hộ tịch; có quyền nhân thân phù hợp với giới tính đã được xác định lại theo quy định của Bộ luật này và luật khác có liên quan.

Tư vấn tội vu khống

Câu hỏi: Gia đình tôi làm công chức, có tranh chấp đất với nhà hàng xóm đã lâu. Dạo gần đây, gia đình họ tung tin thất thiệt là chồng tôi “tham nhũng, có bồ…” gây ảnh hưởng xấu đến danh dự của gia đình và tín nhiệm của chồng tôi. Xin hỏi luật sư, việc làm của họ đã phạm phải tội danh gì và chế tài xử lý như thế nào? Cám ơn Luật sư.

Người gửi câu hỏi: Chị H, thành phố Thái Nguyên

logo-mblaw

Luật sư trả lời:

Cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về Luật Minh Bạch. Với thắc mắc của bạn, chúng tôi xin tư vấn như sau

Các tình tiết mà bạn cung cấp thì hàng xóm của bạn đã có hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của chồng bạn và gia đình bạn. Với hành vi này đã có dấu hiệu cấu thành tội vu khống theo điều 122 BLHS 1999 sửa đổi 2009

 

*        Dấu hiệu pháp lý

Khách thể là quan hệ nhân thân mà nội dung là quyền được tôn trọng và bảo vệ về nhân phẩm, danh dự của con người. Đối tượng tác động là con người.

 

Khách quan:

+ Hành vi bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Đây là hành vi cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật nhằm bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc làm ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

+ Hành vi loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích của người khác. Đay là trường hợp chử thể không phải là người tạo ra thông tin bịa đặt đó nhưng khi thu được thông tin họ cố ý làm cho người khác biết mặc dù họ biết rõ đó là thông tin bịa đặt.

+ Hành vi bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

Tội phạm hoàn thành ngay từ khi những hành vi nói trên được thực hiện không phụ thuộc vào việc quyền lợi của nạn nhân đã bị xâm hại hay chưa.

 

– Chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp

 

– Chủ thể: là người có năng lực trách nhiệm hình sự  và đạt độ tuổi từ 16 tuổi trở lên.

 

*          Hình phạt

– Người nào bịa đặt, loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bịa đặt là người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

 

– Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm:

+ Có tổ chức;

+ Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

+ Đối với nhiều người;

+ Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

+ Đối với người thi hành công vụ;

+ Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

– Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một triệu đồng đến mười triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

*        Trong Bộ luật hình sự 2015 sắp có hiệu lực sắp tới, tội vu khống được quy định cụ thể tại Điều 156:

“. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

  1. b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
  3. a) Có tổ chức;
  4. b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  5. c) Đối với 02 người trở lên;
  6. d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

  1. e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
  2. g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
  3. h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
  4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
  5. a) Vì động cơ đê hèn;
  6. b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
  7. c) Làm nạn nhân tự sát.
  8. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Trân trọng!

 

Đăng ký bổ sung tài sản trên đất

Chào Luật sư, tôi có vấn đề muốn nhận được sự tư vấn của luật sư. Tôi có “sổ đỏ” của thửa đất từ năm 2000. Tuy nhiên trên đó không ghi tài sản trên đất bởi ở thời điểm làm Sổ tôi chưa xây nhà. Đến nay tôi đã hoàn thành công trình nhà ở và  muốn làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu tài sản trên đất thì cần phải chuẩn bị những giấy tờ gì? Nộp tại cơ quan nào?

camsodo

Ảnh minh họa

Luật sư tư vấn:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi những thắc mắc của bạn đến Luật Minh Bạch. Với những thông tin bạn cung cấp chúng tôi xin tư vấn như sau:

*       Giấy tờ cần phải chuẩn bị

Quy định tại Khoản 3 Điều 8 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT Quy định về Hồ sơ địa chính có quy định hồ sơ nộp khi thực hiện thủ tục đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất đã được cấp Giấy chứng nhận gồm có:

  • Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Mẫu số 04/ĐK;
  • Một trong các giấy tờ quy định tại các Điều 31, 32, 33 và 34 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP;
  • Sơ đồ về tài sản gắn liền với đất (trừ trường hợp trong giấy tờ về quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đã có sơ đồ tài sản phù hợp với hiện trạng);
  • Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp chứng nhận bổ sung quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;
  • Chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính; giấy tờ liên quan đến việc miễn, giảm nghĩa vụ tài chính về tài sản gắn liền với đất (nếu có).

*       Cơ quan tiếp nhận hồ sơ

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 60 Nghị định 43/2014/NĐ-CP Quy định Chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai quy định như sau:

“2. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản khác gắn liền với đất; cấp, cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận là Văn phòng đăng ký đất đai. Nơi chưa thành lập Văn phòng đăng ký đất đai thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh tiếp nhận hồ sơ đối với tổ chức, cơ sở tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài thực hiện dự án đầu tư, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện tiếp nhận hồ sơ đối với hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư có nhu cầu nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân cấp xã thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả. Trường hợp đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất; cấp đổi, cấp lại Giấy chứng nhận thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Ủy ban nhân dân cấp xã phải chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai.”

Như vậy, bạn có thể căn cứ theo trình tự trên để nộp tại Văn phòng đăng ký đất đai cấp hoặc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện hoặc tại Ủy ban nhân dân xã nơi có đất.

Trân trọng!

 

 

Điều 204 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về tài sản thuộc sở hữu toàn dân chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý

Điều 204. Tài sản thuộc sở hữu toàn dân chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý

Đối với tài sản thuộc sở hữu toàn dân mà chưa được giao cho cá nhân, pháp nhân quản lý thì Chính phủ tổ chức thực hiện việc bảo vệ, điều tra, khảo sát và lập quy hoạch đưa vào khai thác.

 

Trên đây là quan điểm trả lời của Luật Minh Bạch. Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo, để được hỗ trợ và tư vấn cụ thể hơn, quý bạn đọc vui lòng liên hệ theo địa chỉ:

Công ty Luật Minh Bạch

Phòng 703, số 272 Khương Đình, phường Hạ Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội

Hotline: 1900.6232

Email: luatsu@luatminhbach.vn

Trân trọng!

 

Điều 55 Bộ luật dân sự 2015

Chi tiết điều 55 Bộ luật dân sự như sau : 

Điều 55 : Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người được giám hộ dưới mười lăm tuổi

1. Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ.

2. Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

3. Quản lý tài sản của người được giám hộ.

4. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.

Chợ đêm Nha Trang: Tràn lan hàng giả hàng nhái

Chợ đêm Nha Trang từ lâu bị xem là “điểm nóng” buôn bán hàng giả, hàng nhái với đủ loại sản phẩm gắn mác các thương hiệu nổi tiếng. Các mặt hàng này được bày bán công khai, giá chỉ bằng 1/10 đến 1/100 so với hàng chính hãng, chủ yếu phục vụ khách du lịch trong và ngoài nước. Nhiều tiểu thương thẳng thắn thừa nhận bán hàng giả, cho biết nguồn hàng từ làng nghề trong nước và nhập từ Trung Quốc, đồng thời cho rằng việc bị kiểm tra xử phạt chỉ mang tính hình thức: “bắt rồi nộp phạt, rồi lại bán tiếp”.

Đáng chú ý, tình trạng này diễn ra ngay trung tâm TP Nha Trang, gần trụ sở các cơ quan quản lý nhưng kéo dài nhiều năm chưa được xử lý triệt để. Trước thực trạng trên, Luật sư Trần Tuấn Anh (Đoàn Luật sư TP Hà Nội) khẳng định hành vi buôn bán hàng giả, hàng nhái là vi phạm nghiêm trọng pháp luật, không chỉ bị xử phạt hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc hàng giả vẫn tràn lan cho thấy dấu hiệu buông lỏng quản lý, thiếu quyết liệt của các cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Tìm đọc thêm tại đây.

Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng!

Điều 88 BLDS 2015: Hợp nhất pháp nhân

Phân Tích Chi Tiết và Bình Luận Khoa Học Điều 88 Bộ Luật Dân sự 2015 về Hợp Nhất Pháp Nhân

Chào mừng bạn đến với bài viết phân tích chuyên sâu về Điều 88 của Bộ Luật Dân sự năm 2015, một điều khoản quan trọng liên quan đến hợp nhất pháp nhân. Bài viết này sẽ đi sâu vào từng khía cạnh của điều luật, cung cấp các ví dụ minh họa cụ thể và bình luận khoa học nhằm làm sáng tỏ các vấn đề pháp lý liên quan. Mục tiêu của chúng tôi là giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình, điều kiện và hậu quả pháp lý của việc hợp nhất pháp nhân. (xem thêm…)

‘Pháo hoa’ và ‘pháo hoa nổ’ khác nhau như thế nào?

Từ ngày 11/1, Nghị định số 137/2020 về quản lý, sử dụng pháo chính thức có hiệu lực thi hành, thay thế Nghị định số 36/2009 về quản lý, sử dụng pháo. Việc sử dụng pháo phải tuân thủ những điều kiện, quy định cụ thể, các loại pháo nào được phép sử dụng đang là vấn đề được nhiều người dân quan tâm. Bên cạnh đó, vẫn còn nhiều sự hiểu lầm trong việc phân biệt giữa hai loại pháo hoa và pháo hoa nổ, điều này sẽ rất nguy hiểm nếu người dân không hiểu đúng và phân biệt giữa pháo hoa và pháo hoa nổ. Chia sẻ với báo Đại đoàn kết, Luật sư Trần Tuấn Anh(Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch) đã có những chia sẻ nhằm làm rõ hai khái niệm cũng như phân tích chuyên sâu trong điều kiện để sử dụng pháo hoa.

Đọc thêm tại đây 

Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng

Điều 131 Bộ luật dân sự 2015

Điều 131. Hậu quả pháp lý của giao dịch dân sự vô hiệu

1. Giao dịch dân sự vô hiệu không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập.

2. Khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận.

Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành tiền để hoàn trả.

3. Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.

4. Bên có lỗi gây thiệt hại thì phải bồi thường.

5. Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định.

Bài viết cùng chủ đề

Bài viết mới nhất

video tư vấn

dịch vụ tiêu biểu

Bài viết xem nhiều

dịch vụ nổi bật

ly-hon-2
Mẫu đơn xin ly hôn

Đơn xin ly hôn là giấy tờ pháp lý cần thiết để tiến hành thủ tục ly hôn tại Toà