Tiền công đức tại đền Lảnh Giang chảy vào túi ai?

Những phản ánh về dấu hiệu thu – chi tiền công đức thiếu minh bạch, hoạt động “vong nhập”, hầu đồng thu tiền lớn tại đền Lảnh Giang (Ninh Bình) đang gây nhiều bức xúc trong dư luận. Đáng chú ý, nhiều hòm công đức và mã QR tại di tích được cho là liên kết tới tài khoản cá nhân của thanh đồng Phạm Hải Hậu, đặt ra nghi vấn về việc quản lý nguồn tiền công đức có đúng quy định hay không.

Bình luận về vấn đề này, Luật sư Trần Tuấn Anh (Đoàn Luật sư Hà Nội) cho rằng đối với các di tích thuộc quản lý của Nhà nước, việc để cá nhân tự do khai thác, tiếp nhận tiền công đức là không phù hợp với quy định hiện hành. Vì vậy, những phản ánh liên quan đến việc tiền công đức chảy vào tài khoản cá nhân cần được cơ quan chức năng sớm kiểm tra, làm rõ để bảo đảm tính tôn nghiêm và minh bạch trong hoạt động tín ngưỡng tại di tích.

Nhấn vào đây để tìm hiểu thêm.

Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng.

0.0 sao của 0 đánh giá

Bài viết liên quan

Đề xuất mới của Bộ Công an về ‘cấm tiếp xúc’, ngăn chặn bạo lực gia đình

Bộ Công an Việt Nam đang lấy ý kiến về dự thảo Thông tư quy định công tác giám sát việc thực hiện quyết định “cấm tiếp xúc” theo Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022. Theo dự thảo, việc giám sát này nhằm bảo vệ các nạn nhân, ngăn chặn hiệu quả hành vi bạo lực gia đình, đồng thời góp phần xây dựng một môi trường gia đình an toàn, lành mạnh.

Dự thảo thông tư đề xuất nhiều cải tiến đáng chú ý, chẳng hạn như quy định thời hạn 6 giờ làm việc kể từ khi nhận quyết định cấm tiếp xúc của Chủ tịch UBND cấp xã (hoặc 3 ngày đối với quyết định từ Tòa án nhân dân) để công an địa phương phân công người giám sát. Việc phân công này dựa trên hoàn cảnh của cả người bị giám sát và người giám sát, đảm bảo hiệu quả và tránh tình trạng quá tải cho người giám sát.

Luật sư Trần Tuấn Anh nhận định rằng đây là một bước tiến quan trọng trong hệ thống pháp luật, giúp bảo vệ tốt hơn cho nạn nhân bạo lực gia đình, đặc biệt là với việc giám sát chặt chẽ và có sự phối hợp giữa các bên liên quan. Những quy định mới cũng giúp tăng tính răn đe của lệnh cấm tiếp xúc và góp phần xây dựng hành lang pháp lý vững vàng trong công tác phòng, chống bạo lực gia đình.

Mời bạn đọc thêm tại đây

Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng.

Từ vụ thu giữ 100 tấn thực phẩm chức năng giả dành cho người già, trẻ em mác châu Âu, thuốc giả tràn lan: Trách nhiệm thuộc về ai?

Sau vụ việc triệt phá đường dây thuốc giả, thực phẩm chức năng được làm giả có tổng số lượng lên tới khoảng 100 tấn đe dọa trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng, vấn đề thuốc giả, thực phẩm chức năng giả… trở thành vấn đề nhức nhối, cần có các biện pháp siết chặt quản lý, kiểm tra, giám sát. Trao đổi với PV Dân Việt, luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch đã có những phân tích pháp lý về trách nhiệm của việc hàng giả tràn lan như hiện tại.

Đọc thêm tại đây.

Trên đây là quan điểm trả lời của Luật Minh Bạch. Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo, để được hỗ trợ và tư vấn cụ thể hơn, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng.

 

Thủ tục cấp giấy xác nhận là người gốc Việt Nam

Cơ quan thực hiện :  

  • Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài
  • Các Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài

Yêu cầu : 

Có giấy tờ chứng minh là người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch Việt Nam được xác định theo nguyên tắc huyết thống hoặc có cha hoặc mẹ, ông nội hoặc bà nội, ông ngoại hoặc bà ngoại đã từng có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống (Bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực).

Trình tự thực hiện : 

– Người yêu cầu nộp hồ sơ trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài nơi người đó cư trú, hoặc Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao

– Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao sẽ xem xét hồ sơ.

– Nếu có đủ cơ sở, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài – Bộ Ngoại giao cấp Giấy xác nhận là người gốc Việt Nam.

Thành phần hồ sơ : 

– Tờ khai xác nhận là người gốc Việt Nam có dán ảnh 4×6 (theo mẫu TP/QT-2013-TKXNLNGVN);

– 02 ảnh 4×6;

– Bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc giấy tờ có giá trị thay thế (do nước sở tại cấp);

– Giấy tờ chứng minh là người đã từng có quốc tịch Việt Nam mà khi sinh ra quốc tịch Việt Nam được xác định theo nguyên tắc huyết thống hoặc có cha hoặc mẹ, ông nội hoặc bà nội, ông ngoại hoặc bà ngoại đã từng có quốc tịch Việt Nam theo huyết thống (Bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực);

– Giấy tờ khác có liên quan (nếu có) làm căn cứ để tham khảo bao gồm:

+ Giấy tờ về nhân thân, hộ tịch, quốc tịch do các chế độ cũ cấp trước ngày 30/5/1975 được nêu tại khoản 2 Điều 9 Thông tư liên tịch số 05/2010/TTLT-BTP-BNG-BCA (Bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực);

+ Giấy bảo lãnh của Hội đoàn người Việt Nam ở nước mà người yêu cầu đang cư trú, trong đó xác nhận người đó có gốc Việt Nam;

+ Giấy bảo lãnh của người có quốc tịch Việt Nam, trong đó xác nhận người yêu cầu có gốc Việt Nam;

+ Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp trong đó ghi quốc tịch Việt Nam hoặc quốc tịch gốc Việt Nam (Bản sao kèm theo bản chính để đối chiếu hoặc bản sao có chứng thực).

Số lượng hồ sơ : 01 bộ

Thời hạn thực hiện : 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ hợp lệ 

Điều 103 Bộ luật dân sự 2015

Điều 103. Trách nhiệm dân sự của thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Nghĩa vụ dân sự phát sinh từ việc tham gia quan hệ dân sự của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được bảo đảm thực hiện bằng tài sản chung của các thành viên.

2. Trường hợp các thành viên không có hoặc không đủ tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ chung thì người có quyền có thể yêu cầu các thành viên thực hiện nghĩa vụ theo quy định tại Điều 288 của Bộ luật này.

3. Trường hợp các bên không có thỏa thuận, hợp đồng hợp tác hoặc luật không có quy định khác thì các thành viên chịu trách nhiệm dân sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này theo phần tương ứng với phần đóng góp tài sản của mình, nếu không xác định được theo phần tương ứng thì xác định theo phần bằng nhau.

Cảnh giác chiêu lừa đặt cọc, góp vốn đầu tư nhà đất

Những lời mời gọi đầu tư vào “dự án khu đô thị cao cấp”, “suất ngoại giao giá rẻ” hay “góp vốn sinh lời nhanh” đang trở thành chiếc bẫy khiến nhiều người mất trắng hàng tỷ đồng. Thực tế, không ít nạn nhân đã đặt trọn niềm tin vào môi giới hoặc người quen mà bỏ qua khâu kiểm tra pháp lý, để rồi rơi vào các vụ lừa đảo quy mô lớn, kéo dài nhiều năm.

Trao đổi với Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam, Luật sư Trần Tuấn Anh, Đoàn Luật sư TP Hà Nội, cảnh báo rằng các giao dịch dưới hình thức đặt cọc, giữ chỗ, góp vốn đầu tư bất động sản nếu không ký trực tiếp với chủ đầu tư và không có đầy đủ hồ sơ pháp lý đều tiềm ẩn rủi ro mất tài sản. Theo luật sư, môi giới không có quyền nhận tiền đặt cọc, mọi yêu cầu chuyển tiền trong các giao dịch mập mờ đều có dấu hiệu gian dối. Người dân cần thận trọng, xác minh kỹ tính pháp lý của dự án trước khi xuống tiền để tránh trở thành nạn nhân tiếp theo của các chiêu trò lừa đảo bất động sản.

Đọc thêm tại đây.

Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng.

Điều 46 Bộ luật dân sự 2015

Chi tiết điều 46, Bộ luật dân sự 2015 như sau : 

Điều 46 : Giám hộ

1. Giám hộ là việc cá nhân, pháp nhân được luật quy định, được Ủy ban nhân dân cấp xã cử, được Tòa án chỉ định hoặc được quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này (sau đây gọi chung là người giám hộ) để thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ).

2. Trường hợp giám hộ cho người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì phải được sự đồng ý của người đó nếu họ có năng lực thể hiện ý chí của mình tại thời điểm yêu cầu.

3. Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Người giám hộ đương nhiên mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.

Pháp nhân thương mại phạm tội trốn thuế sẽ bị xử lý như thế nào?

Tội trốn thuế là một trong 33 tội danh pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự. So với quy định tại BLHS 1999, điều 200 tại BLHS 2015 đã cụ thể hóa các hành vi phạm tội trốn thuế; mở rộng khả năng áp dụng hình phạt tiền trên cơ sở nâng mức phạt tiền; quy định mức phạt tiền cụ thể thay vì tính theo số lần so với số tiền trốn thuế như trước kia

Tội trốn thuế có những dạng hành vi nào?

Hành vi phạm tội này được hiểu là hành vi cố ý không nộp các khoản thuế mà người phạm tội phải nộp theo quy định của pháp luật, gồm 9 dạng hành vi. Các hành vi này đều được thực hiện với lỗi cố ý và đều nhằm mục đích là không nộp hoặc nộp không đúng, không đầy đủ số tiền thuế phải nộp theo quy định của pháp luật về thuế. Các hành vi được quy định trong Điều 108 Luật Quản lý Thuế, cụ thể như sau:

  • Không nộp hồ sơ đăng ký thuế; không nộp hồ sơ khai thuế; nộp hồ sơ khai thuế sau 90 ngày kể từ ngày hết hạn nộp hồ sơ khai thuế hoặc hết thời hạn gia hạn nộp hồ sơ khai thuế theo quy định của pháp luật;
  • Không ghi chép trong sổ kế toán các khoản thu liên quan đến việc xác định số tiền thuế phải nộp;
  • Không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ hoặc ghi giá trị trên hóa đơn bán hàng thấp hơn giá trị thanh toán thực tế của hàng hóa, dịch vụ đã bán;
  • Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp để hạch toán hàng hóa, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn;
  • Sử dụng chứng từ, tài liệu không hợp pháp khác để xác định sai số tiền thuế phải nộp, số tiền thuế được hoàn;
  • Khai sai với thực tế hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà không khai bổ sung hồ sơ khai thuế sau khi hàng hóa đã được thông quan
  • Cố ý không kê khai hoặc khai sai về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
  • Câu kết với người gửi hàng để nhập khẩu hàng hóa
  • Sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng không chịu thuế, miễn thuế, xét miễn thuế không đúng mục đích quy định mà không khai báo việc chuyển đổi mục đích sử dụng với cơ quan quản lý thuế

Loại hình phạt và mức hình phạt áp dụng cho Pháp nhân phạm tội trốn thuế

Khung 1: Phạt tiền từ 300.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng với pháp nhân thực hiện 1 trong 9 hành vi nêu trên thuộc các trường hợp:

  • Trốn thuế với số tiền từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng
  • Số tiền thuế trốn dưới 100.000.000 đồng mà trước đó, người phạm tội đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trốn thuế, chưa được xóa án tích của lần vi phạm hành chính này mà lại tiếp tục thực hiện hành vi trốn thuế

(hoặc)

  • Đã bị kết án về tội trốn thuế hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 188, 189, 190, 191, 192, 193, 194, 195, 196, 202, 250, 251, 253, 254, 304, 305, 306, 309 và 311 của BLHS 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Khung 2: Phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây:

  • Có tổ chức
  • Số tiền trốn thuế Số tiền trốn thuế từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;
  • Phạm tội 02 lần trở lên;
  • Tái phạm nguy hiểm.

Khung 3: Phạt tiền từ 3.000.000.000 đồng đến 10.000.000.000 đồng hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn từ 06 tháng đến 03 năm nếu phạm tội trốn thuế với số tiền 1.000.000.000 đồng trở lên

Khung 4: Đình chỉ vĩnh viễn toàn bộ hoạt động trong trường hợp:

Pháp nhân thương mại được thành lập chỉ để thực hiện tội phạm, gây thiệt hại hoặc có khả năng thực tế gây thiệt hại đến tính mạng của nhiều người, gây sự cố môi trường hoặc gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và không có khả năng khắc phục hậu quả gây ra

Ngoài ra, pháp nhân thương mại còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền từ 50 triệu đến 200 triệu đồng,  cấm kinh doanh, hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định hoặc cấm huy động vốn từ 01 năm đến 03 năm, kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật

Mọi thắc mắc pháp lý cần tư vấn hoặc yêu cầu dịch vụ, quý khách vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 19006232hoặc gửi thư về địa chỉ emai: luatsu@luatminhbach.vn

Xem thêm các bài viết cùng chủ đề:

Tội trốn thuế theo quy định của Bộ Luật Hình sự 2015

Pháp nhân thương mại có thể phải chịu trách nhiệm hình sự những tội danh nào

Tăng Cường Xử Phạt Vi Phạm Nồng độ Cồn Giao Thông

[Tăng Cường Xử Phạt Vi Phạm Nồng độ Cồn Giao Thông]

Executive Summary

This article delves into the crucial issue of increasing penalties for drunk driving violations. We’ll explore the devastating consequences of driving under the influence (DUI), examine the current state of legislation and enforcement, and propose strategies for strengthening penalties to deter this dangerous behavior. The goal is to highlight the need for a more robust and effective system to protect innocent lives on our roads. We will explore various aspects, from the effectiveness of current penalties to the role of public awareness campaigns, ultimately advocating for a stricter approach to curb this preventable tragedy.

Introduction

Driving under the influence of alcohol remains a significant public safety threat worldwide. Every year, thousands of lives are tragically lost due to drunk driving accidents, leaving families devastated and communities mourning. The current penalties, in many jurisdictions, are often seen as inadequate deterrents, failing to fully address the severity of the crime. This article will examine the urgent need for strengthened penalties for drunk driving violations, exploring the various aspects of this multifaceted problem and proposing solutions to make our roads safer. We’ll examine effective strategies to reduce the incidence of drunk driving and save lives.

Frequently Asked Questions (FAQs)

  • Q: What constitutes driving under the influence?

A: Driving under the influence (DUI) or driving while intoxicated (DWI) typically refers to operating a vehicle with a blood alcohol content (BAC) above the legal limit set by the relevant jurisdiction. This limit varies but is generally around 0.08%. However, even levels below the legal limit can significantly impair driving ability and lead to accidents.

  • Q: What are the current penalties for drunk driving?

A: Penalties for drunk driving vary widely depending on the jurisdiction and the number of offenses. They can range from fines and license suspension to jail time and mandatory alcohol treatment programs. However, the consistency and severity of these penalties often lack the necessary impact to truly deter repeat offenders.

  • Q: How effective are current penalties in reducing drunk driving incidents?

A: While current penalties do have some deterrent effect, studies suggest they are not sufficient to significantly curb drunk driving incidents. Many drivers still take the risk, highlighting the need for stronger, more consistent enforcement and harsher punishments.

The Devastating Consequences of Drunk Driving

Drunk driving wrecks lives. The consequences extend far beyond the immediate victims of accidents. Families are torn apart, futures are shattered, and communities bear the economic and emotional burden of these preventable tragedies.

  • Loss of Life: The most tragic consequence is the loss of innocent lives. Drunk driving accidents claim thousands of lives annually, leaving behind immeasurable grief and suffering.
  • Severe Injuries: Survivors of drunk driving accidents often suffer debilitating injuries, requiring extensive medical care and impacting their quality of life. These injuries can be physical, emotional, and psychological.
  • Financial Burden: The costs associated with drunk driving accidents are immense, encompassing medical expenses, legal fees, lost wages, and property damage. These costs are borne not just by the individual responsible but also by taxpayers and insurance companies.
  • Emotional Trauma: The emotional toll on victims, families, and witnesses is profound. The lasting psychological impact of experiencing or witnessing a drunk driving accident can be devastating.
  • Legal Ramifications: Beyond the immediate penalties, those convicted of drunk driving face lasting consequences, including criminal records that can affect employment and other aspects of their lives.
  • Societal Impact: Drunk driving negatively impacts society as a whole, creating a climate of fear and uncertainty on our roads, and diverting resources to deal with the aftermath of preventable accidents.

Strengthening Legal Frameworks and Enforcement

Strengthening the legal framework and enforcement mechanisms is crucial in combating drunk driving. We need a multi-pronged approach to make our roads safer.

  • Increased Penalties: Implementing harsher penalties, including longer jail sentences, significantly higher fines, and mandatory alcohol treatment programs, can serve as a stronger deterrent. These penalties need to reflect the seriousness of the offense.
  • Zero Tolerance Policies: Zero-tolerance policies, particularly for young drivers, can be effective in preventing drunk driving behavior before it becomes a habit. These policies could lead to stricter enforcement and more severe penalties.
  • Enhanced Enforcement: Increased police presence and proactive enforcement campaigns, utilizing technologies such as sobriety checkpoints and advanced breathalyzer tests, can significantly deter drunk driving. Robust law enforcement is crucial.
  • Ignition Interlock Devices: Mandatory installation of ignition interlock devices (IIDs) for convicted drunk drivers can prevent them from operating vehicles while under the influence. The device prevents the car from starting if the driver has any alcohol in their system.
  • Public Awareness Campaigns: Effective public awareness campaigns emphasizing the dangers of drunk driving and the consequences of such actions can significantly improve public understanding and compliance.
  • Technological Advancements: Embracing technologies such as advanced driver-assistance systems (ADAS) and autonomous driving systems can potentially reduce the frequency of drunk-driving incidents in the future.

The Role of Public Awareness and Education

Public awareness campaigns play a critical role in shaping attitudes and behaviors towards drunk driving. Educating the public about the dangers of alcohol consumption and driving is crucial.

  • Targeted Campaigns: Designing campaigns targeting specific demographics, such as young adults and high-risk groups, can be particularly effective in reaching those most at risk.
  • Community Involvement: Engaging community leaders, influencers, and local organizations can help spread the message and increase public awareness.
  • Emotional Appeals: Utilizing powerful storytelling and emotional appeals can resonate with audiences on a deeper level, increasing their understanding of the issue.
  • Interactive Initiatives: Incorporating interactive elements into campaigns, such as online quizzes, social media challenges, and public service announcements, can make the message more engaging.
  • Partnerships: Collaborating with law enforcement, public health agencies, and community groups creates synergistic efforts that broaden outreach and impact.
  • Sustained Effort: Public awareness campaigns need to be sustained and consistent to have a lasting impact on public behavior and attitudes.

Technological Solutions for Preventing Drunk Driving

Technology is playing an increasingly important role in preventing drunk driving. Several technologies have the potential to save lives.

  • Advanced Driver-Assistance Systems (ADAS): ADAS technologies, such as lane departure warnings, automatic emergency braking, and adaptive cruise control, can help prevent accidents, even those caused by impaired drivers.
  • Alcohol Detection Systems: Developing more accurate and reliable alcohol detection systems for vehicles could automatically prevent a car from starting if the driver’s BAC is above the legal limit.
  • Smartphone Apps: Smartphone apps can offer various functions, from providing ride-sharing options to testing BAC levels. These tools can encourage responsible choices.
  • Data Analytics: Utilizing data analytics to identify high-risk areas and times can allow law enforcement to deploy resources more effectively.
  • Autonomous Vehicles: The advent of autonomous vehicles holds the potential to completely eliminate human error as a factor in traffic accidents, including those caused by drunk driving.
  • Driver Monitoring Systems: Real-time monitoring systems that assess driver behavior and identify signs of impairment are becoming increasingly sophisticated and could provide early warnings of potential drunk driving incidents.

Conclusion

The persistent problem of drunk driving demands a concerted and comprehensive response. Simply maintaining the status quo is unacceptable. We need a multifaceted approach that combines stricter penalties, robust enforcement, effective public awareness campaigns, and the harnessing of technological advancements. By prioritizing the safety of our roads and implementing these strategies, we can significantly reduce the incidence of drunk driving, saving lives and creating safer communities for everyone. The collective responsibility lies with all of us to create a culture of responsible driving and to take a zero-tolerance approach to this preventable tragedy. The cost of inaction is simply too high.

Keyword Tags

Drunk driving, DUI penalties, road safety, alcohol detection, traffic fatalities.

Đồng phạm là gì? (Điều 17 Bộ Luật hình sự năm 2015)

Khái Niệm và Đặc Điểm Cơ Bản của Đồng Phạm theo Điều 17 BLHS 2015

Đồng phạm được hiểu là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Điều 17 Bộ luật Hình sự 2015 nêu rõ: “Đồng phạm là có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm“.

Các đặc điểm cơ bản của đồng phạm bao gồm:

  • Số lượng người: Phải có ít nhất hai người trở lên tham gia.
  • Yếu tố cố ý: Những người tham gia phải có ý thức chung, cùng mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả của hành vi phạm tội.
  • Cùng thực hiện tội phạm: Hành vi của mỗi người phải góp phần vào việc thực hiện tội phạm.

(xem thêm…)

Điều 22- Bộ luật dân sự 2015 : Mất năng lực hành vi dân sự

Chi tết điều 22, Bộ luật dân sự 2015 

Điều 22. Mất năng lực hành vi dân sự

1. Khi một người do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định tuyên bố người này là người mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận giám định pháp y tâm thần.

Khi không còn căn cứ tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự thì theo yêu cầu của chính người đó hoặc của người có quyền, lợi ích liên quan hoặc của cơ quan, tổ chức hữu quan, Tòa án ra quyết định hủy bỏ quyết định tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự.

2. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.

Thủ tục thay đổi giám đốc công ty trong công ty TNHH

Câu hỏi: 

Hiện nay tôi đang làm giám đốc công ty TNHH Xây dựng một thành viên, thành lập từ năm 2007, nay tôi định chuyển sang cho vợ đứng tên làm giám đốc. Vậy tôi cần làm những giấy tờ thủ tục gì? Cảm ơn luật sư. 

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng Luật Minh Bạch và gửi câu hỏi về cho chúng tôi, Chúng tôi xin trả lời tư vấn cho bạn như sau:

TH1: Bạn muốn chuyển sang cho vợ làm giám đốc, đồng thời là người đại diện theo pháp luật trong giấy đăng ký doanh nghiệp bạn cần chuẩn bị những giấy tờ sau (Nộp hồ sơ thông báo thay đổi tại phòng đăng ký kinh doanh của Sở kế hoạch và đầu tư):

  1. Thông báo về việc thay đổi người đại diện theo pháp luật (Theo mẫu quy định tại thông tư 20/2015/TT-BKHĐT)
  2. Quyết định của chủ sở hữu công ty.
  3. Bản sao giấy tờ chứng thực cá nhân của vợ bạn
  4. Bản sao hợp lệ Chứng chỉ hành nghề của vợ bạn (trong trường hợp Công ty có đăng ký ngành, nghề kinh doanh mà pháp luật chuyên ngành yêu cầu Giám đốc phải có chứng chỉ hành nghề).

TH2: Nếu bạn chỉ chuyển cho vợ làm giám đốc, không thay đổi người đại diện theo pháp luật thì việc thay đổi người giữ chức vụ giám đốc chỉ là hoạt động nội bộ, công ty không phải thực hiện thủ tục thông báo tại cơ quan nhà nước.

Tục “cướp vợ, bắt vợ” và các vấn đề pháp lý liên quan

Ngày 4/2, trên mạng xã hội lan truyền video nhóm thanh niên bắt một cô gái về làm vợ tại ngã ba xã Châu Lộc (huyện Quỳ Hợp, Nghệ An). Mặc dù cô gái đã gào thét, vùng vẫy nhưng nhóm thanh niên quyết không thả.

  1. Thưa Luật sư, trường hợp “cướp vợ, bắt vợ” mà nhóm thanh niên và người chủ mưu có vi phạm pháp luật không ? nếu vi phạm sẽ đối chiếu với điều luật nào ?
  2. Sự việc trên đã đủ để khởi tố vụ án hay không?
  3. Theo Luật sư, chính quyền địa phương và cơ quan chức năng cần làm gì để thức tỉnh, cảnh tỉnh những người có hành vi như trên ?
  4. Được biết, hiện nay rất nhiều địa phương có phong tục “bắt vợ”, nhiều người lợi dụng phong tục để ép các cô gái về làm “vợ”. Vậy theo Luật sư, phong tục này có phù hợp với quy định pháp luật và nếp sống văn minh ngày nay hay không ? Nếu để phong tục này tiếp diễn thì có thể gây nên những hậu quả ra sao, thưa luật sư ?

a

         Ảnh minh họa

Luật sư trả lời:

Trong trường hợp này, hành vi “cướp vợ, bắt vợ” mà nhóm thanh niên thực hiện đối với cô gái ở Nghệ An đã có dấu hiệu của tội phạm hình sự. Cụ thể ở đây là tội bắt, giữ, hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 123 BLHS 1999 sửa đổi 2009.

Theo đó:

“Điều 123: Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật

  1. Người nào bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.
  2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:
  3. a) Có tổ chức;
  4. b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
  5. c) Đối với người thi hành công vụ;
  6. d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người.

  1. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.
  2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.”

Hành vi của các thanh niên trong clip “bắt vợ” hoàn toàn đủ cấu thành tội phạm.

Thứ nhất, về mặt khách thể tội phạm:

Đây là tội phạm xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tự do cá nhân của công dân. Qua clip ta có thể thấy được sự ép buộc phải lên xe máy của nhóm thanh niên đối với cô gái trẻ.

Thứ hai, về mặt khách quan tội phạm:

Mặt khách quan được thể hiện ở hành vi bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật. Trong trường hợp này, nhóm thanh niên là người không có thẩm quyền, chức năng hoạt động nhà nước và cô gái cũng không phải trường hợp phạm tội quả tang hoặc đang có lệnh truy nã nhưng vì lý do cá nhân (bắt vợ) mà có hành vi bắt người trái phép.

Thứ ba, về chủ thể tội phạm:

Nhóm thanh niên có hành vi “cướp vợ, bắt vợ” (đủ 16 tuổi và có đủ năng lực TNHS).

Thứ tư, mặt chủ quan tội phạm:

Đây là tội phạm thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp (thể hiện qua hành vi giữ tay chân, ép buộc cô gái lên xe gắn máy).

Như vậy, với hành vi như diễn ra trong clip, nhóm thanh niên đã bắt người trái pháp luật khi có hành vi dùng vũ lực như trói, khóa tay hoặc đe dọa dùng vũ lực buộc cô gái phải lên xe máy đến nơi theo ý chý của họ thì hành vi này hoàn toàn đủ cấu thành tội bắt, giữ, hoặc giam người trái pháp luật theo quy định tại Điều 123 BLHS 1999 sửa đổi 2009.

Ngoài ra, nếu hành vi bắt, giữ người trái pháp luật của nhóm thanh niên mà gây ra thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho cô gái thì còn có thể truy tố về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác.

Căn cứ vào mức độ nghiêm trọng và các tình tiết liên quan khác thì cơ quan điều tra sẽ tiến hành khởi tố vụ án theo đúng quy định pháp luật.

          * Ý kiến cá nhân về phong tục “bắt vợ, cướp vợ”

Phong tục bắt vợ hay bắt chồng thường diễn ra ở môt số vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây được coi là một nét văn hóa đặc trưng của các dân tộc trên. Tuy nhiên, với xã hội tiên tiến, văn minh như hiện nay, cá nhân tôi cho rằng, phong tục này chỉ nên được giữ lại theo “hình thức”. Tức là khi tiến hành “bắt vợ, cướp vợ” thì hai bên đã có sự đồng thuận, chỉ coi hành vi này như một nét đẹp nhằm bảo toàn văn hóa và truyền thống của dân tộc.

Phong tục này nếu diễn ra mà không có biểu hiệu thể hiện sự đồng ý của các bên liên quan thì người thực hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật theo quy định Điều 123 BLHS hiện hành quy định về hành vi bắt giữ người trái pháp luật  và dẫn tới các hậu quả pháp lý nghiêm trọng.

Hơn thế nữa, hiện nay Luật hôn nhân gia đình cũng đã quy định một cách cụ thể chi tiết về chế độ hôn nhân tại Việt Nam và công dân Việt Nam bất kể tôn giáo, dân tộc phải tuân thủ theo quy định của Luật.

Chính vì thế, chính quyền quản lý các cấp và các ban ngành có thẩm quyền phải tích cực tuyên truyền, phổ biến pháp luật, đặc biệt là cho các dân tộc thiểu số để mọi người có thể hiểu và tuân thủ các quy định của pháp luật. Từ đó loại bỏ và cải tiến một số hủ tục, đảm bảo các nét văn hóa truyền thống được lưu giữ trong khuôn khổ của pháp luật.

Công ty Luật Minh Bạch

Bài viết cùng chủ đề

Bài viết mới nhất

video tư vấn

dịch vụ tiêu biểu

Bài viết xem nhiều

dịch vụ nổi bật