Người nổi tiếng quảng cáo sai sự thật: Dư luận bức xúc đề nghị sớm “phong sát”

Thời gian gần đây, trên không gian mạng xã hội xuất hiện nhiều nghệ sĩ, người nổi tiếng có hành vi quảng cáo sai sự thật, gây hậu quả xấu trong cho cộng đồng, các cơ quan báo chí và dư luận dù nhiều lần phản ánh, lên án. Nhưng sau đó một thời gian, khi mọi việc “êm xuôi”, họ lại tiếp tục tái diễn các hành vi quảng cáo sai sự thật với nhiều sản phẩm khác. Một vụ việc mới nổi lên gần đây là việc Tiktoker Hằng Du Mục, Quang Linh Vlog, Hoa hậu Thùy Tiên có hành vi quảng cáo sai sự thật và được một số cơ quan chức năng vào cuộc, xử lý nhưng điều đó vẫn khiến dư luận cho rằng cần phải sớm “phong sát” những người nổi tiếng mới có thể chấn chỉnh được tình trạng này không tái diễn. Nhận định sự việc dưới góc độ pháp lý, Luật sư Trần Tuấn Anh – Văn phòng Luật Minh Bạch – cho biết: “Căn cứ theo khoản 5 Điều 34 Nghị định 38/2021, cá nhân quảng cáo sai sự thật có thể bị phạt từ 60 đến 80 triệu đồng. Đồng thời, các hình phạt bổ sung cũng được áp dụng như buộc gỡ bỏ, xóa các nội dung quảng cáo sai sự thật; buộc cải chính thông tin và xin lỗi công khai; cấm tham gia hoạt động quảng cáo từ 1 đến 3 năm trong trường hợp nghiêm trọng hoặc tái phạm. Ngoài ra, người vi phạm có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 197 Bộ luật Hình sự 2015, nếu hành vi quảng cáo gian dối gây hậu quả nghiêm trọng và đã bị xử phạt hành chính nhưng vẫn tái phạm, người vi phạm có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm. Đồng thời, hình phạt bổ sung có thể bao gồm phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.

Mời bạn đọc thêm tại đây.

Dưới đây là hình ảnh về sự sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thành phố Hà Nội cũng như danh sách các cơ quan sau khi sắp xếp.
Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng.

0.0 sao của 0 đánh giá

Bài viết liên quan

Đề xuất bắt buộc hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên phải giao kết hợp đồng bằng văn bản.

Ngày 03.10.2016 Bộ lao động thương binh và xã hội ra dự thảo báo cáo tổng kết đánh giá 03 năm thi hành bộ luật lao động 2012

vbmoi

Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đề xuất sửa đổi Khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động 2012 theo hướng bắt buộc hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên phải giao kết hợp đồng bằng văn bản.

Việc điều chỉnh này sẽ giúp cho Bộ luật Lao động thống nhất với Luật bảo hiểm xã hội 2014, bởi từ ngày 01/01/2018 người lao động làm việc theo hợp đồng lao động từ đủ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.

Đây là nội dung được đề cập tại Dự thảo Báo cáo tổng kết đánh giá 03 năm thi hành Bộ luật Lao động 2012 vào ngày 03/10/2016 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

Cũng tại Dự thảo này, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cũng đề xuất giải thích rõ thuật ngữ “công việc tạm thời”, quy định rõ ràng hơn về lao động không trọn thời gian…

Điều 106 Bộ luật dân sự 2015

Điều 106. Đăng ký tài sản

1. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là bất động sản được đăng ký theo quy định của Bộ luật này và pháp luật về đăng ký tài sản.

2. Quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản là động sản không phải đăng ký, trừ trường hợp pháp luật về đăng ký tài sản có quy định khác.

3. Việc đăng ký tài sản phải được công khai.

Quyền của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Công ty TNHH MTV là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu và chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

Quyền của chủ sở hữu công ty được quy định chi tiết tại Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2020:

I. Quyền của Chủ sở hữu Công ty là Tổ chức (Điều 76 Khoản 1)

Chủ sở hữu công ty là tổ chức có quyền quyết định và giám sát mọi hoạt động của công ty. Các quyền này bao gồm, nhưng không giới hạn ở các vấn đề cốt lõi sau:

  1. Quyết định về Tổ chức và Quản lý Nội bộ:
    • Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.
    • Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty, bao gồm việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm người quản lý và Kiểm soát viên của công ty.
    • Tổ chức giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của công ty.
    • Quyết định thành lập công ty con, góp vốn vào công ty khác.
  2. Quyết định về Chiến lược và Tài chính:
    • Quyết định chiến lược phát triển và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty.
    • Quyết định dự án đầu tư phát triển.
    • Quyết định các giải pháp phát triển thị trường, tiếp thị và công nghệ.
    • Thông qua báo cáo tài chính của công ty.
    • Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty.
    • Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty.
    • Quyết định phát hành trái phiếu.
  3. Quyết định về Tài sản và Hợp đồng:
    • Quyết định các hợp đồng quan trọng, bao gồm hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định, có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty (hoặc một tỷ lệ hoặc giá trị khác nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty).
    • Quyết định chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác.
  4. Quyết định về Chấm dứt Hoạt động:
    • Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty.
    • Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản.
    • Thực hiện các quyền khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.

II. Quyền của Chủ sở hữu Công ty là Cá nhân (Điều 76 Khoản 2)

Chủ sở hữu công ty là cá nhân có các quyền tương tự như chủ sở hữu là tổ chức trong một số lĩnh vực, cùng với quyền tự quản trị nội bộ doanh nghiệp:

  1. Các Quyền Tương tự Chủ sở hữu Tổ chức: Chủ sở hữu công ty là cá nhân có các quyền được quy định tại các điểm a, h, l, m, n và o khoản 1 Điều 76. Cụ thể là:
    • Quyết định nội dung Điều lệ công ty, sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty.
    • Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty.
    • Quyết định chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác.
    • Quyết định phát hành trái phiếu.
    • Quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ thuế và các nghĩa vụ tài chính khác của công ty.
    • Quyết định tổ chức lại, giải thể và yêu cầu phá sản công ty.
    • Thu hồi toàn bộ giá trị tài sản của công ty sau khi công ty hoàn thành giải thể hoặc phá sản.
  2. Quyền Tự quản lý và Điều hành:
    • Quyết định đầu tư, kinh doanh và quản trị nội bộ công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác.

Ví dụ Minh họa

Để làm rõ, trong thực tiễn doanh nghiệp, quyền của Chủ sở hữu Công ty TNHH MTV (là tổ chức) đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát các giao dịch có giá trị lớn và việc tái cấu trúc:

Vấn đề Quyết định Nội dung Quyền Trích dẫn Điều luật Ví dụ Minh họa
Giao dịch giá trị lớn Quyết định hợp đồng vay, cho vay, bán tài sản và các hợp đồng khác do Điều lệ công ty quy định, có giá trị từ 50% tổng giá trị tài sản trở lên được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất (Áp dụng cho chủ sở hữu là tổ chức). Điểm e Khoản 1 Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2020. Nếu tổng tài sản công ty là 100 tỷ đồng, chủ sở hữu (tổ chức) phải quyết định việc bán bất kỳ tài sản nào có giá trị từ 50 tỷ đồng trở lên.
Quyết định về vốn Quyết định tăng vốn điều lệ của công ty; chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác; quyết định phát hành trái phiếu. (Áp dụng cho cả chủ sở hữu tổ chức và cá nhân). Điểm h Khoản 1 Điều 76 và Khoản 2 Điều 76 Luật Doanh nghiệp 2020. Chủ sở hữu cá nhân có quyền quyết định bán 40% vốn điều lệ để chuyển công ty thành Công ty TNHH 2 thành viên trở lên.
Nghĩa vụ mới Chủ sở hữu công ty (và các bên liên quan) phải thu thập, cập nhật, lưu giữ thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp và cung cấp thông tin này cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền (phục vụ công tác phòng chống rửa tiền). Khoản 5a Điều 8 Luật Doanh nghiệp 2020 (bổ sung năm 2025). Bổ sung nghĩa vụ kê khai Chủ sở hữu hưởng lợi (Beneficial Owner).
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài.

Trước thực trạng kết hôn có yếu tố nước ngoài diễn biến phức tạp, những năm gần đây, Chính phủ đã chỉ đạo chấn chỉnh công tác quản lý và đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài.

1.Tăng cường vai trò trách nhiệm của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong công tác quản lý

    Cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực này. Sở Tư pháp cần đưa thông tin rõ ràng, chính xác cho Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện để việc quản lý ở địa phương tốt hơn.

– Bên cạnh đó, cần nâng cao sự phối hợp trong thẩm tra, xác minh, cung cấp, thông báo thông tin giữa các cơ quan Công an, Tư pháp và các ngành có liên quan khác nhằm phát hiện, ngăn chặn các trường hợp không đủ điều kiện kết hôn hoặc vi phạm pháp luật. Tập trung rà soát, kịp thời phát hiện, ngăn chặn, xử lý kiên quyết các tổ chức, cá nhân môi giới hôn nhân bất hợp pháp.

– Các cơ quan chức năng không cho phép tổ chức lễ cưới trước khi Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Vì có nhiều người chưa hoàn tất thủ tục kết hôn đã tổ chức lễ cưới và chung sống như vợ chồng rồi lại bỏ về nước, cần phải tránh sự thiệt thòi cho phụ nữ Việt Nam.

– Các tổ chức đoàn thể, nhất là đoàn thanh niên, hội phụ nữ cần tạo ra những sân chơi vui tươi, lành mạnh, cuốn hút thanh niên, tạo nhiều hội nhóm sinh hoạt, dạy nghề, tạo công ăn việc làm, thu nhập ổn định cho thanh niên, tuyên truyền, giáo dục tinh thần yêu nước, xây dựng tổ quốc, chống chủ nghĩa cơ hội, lối sống thực dụng, đua đòi, văn hóa ngoại lai trong một bộ phận thanh niên.

– Ngoài ra cần củng cố và duy trì hoạt động của Trung tâm hỗ trợ kết hôn thành phố để hỗ trợ cho người có nhu cầu kết hôn với người nước ngoài, giúp các phụ nữ kết hôn có yếu tố nước ngoài có thông tin về đất nước, con người nơi họ sẽ đến nhằm sớm hòa nhập, góp phần ngăn chặn các trường hợp bị lợi dụng trong hôn nhân, hôn nhân bất hợp pháp.

2.Vai trò của gia đình

  Các gia đình phải trang bị cho con cái những hiểu biết, bản lĩnh sống , khả năng thích ứng trước những biến động rủi ro trong cuộc sống hằng ngày.Với con gái thì người mẹ phải quan tâm giáo dục cho con về những điều con nên biết để sau này còn phục vụ gia đình, quan tâm, chăm sóc và hiểu tâm lý của con.

3.Áp dụng khoa học kỹ thuật

   Áp dụng các quy định của pháp luật và hướng dẫn của Bộ Tư pháp trên các phương tiện thông tin – trang web của Sở Tư pháp về việc kết hôn có yếu tố nước ngoài để người dân có thể biết rõ để thực hiện tốt. Hiện nay, chỉ có Sở Tư pháp là cơ quan đầu tiên áp dụng quản lý hộ tịch bằng web, bao gồm nhiều vấn đề: kết hôn có yếu tố nước ngoài, lý lịch tư pháp, khai sinh, nhận cha mẹ con… Tất cả các khâu từ đăng ký hồ sơ cho đến khâu cuối cùng là hoàn thành và lưu hồ sơ đều được xử lý qua hệ thống máy tính có nối mạng của Sở. Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật đã góp phần tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của người dân và của các cơ quan có thẩm quyền. Đây là một ưu điểm cần được phát huy rộng rãi trong hệ thống các cơ quan Nhà nước, và cần phổ biến rộng rãi để người dân biết và thực hiện đúng pháp luật.

4.Cải cách pháp luật và cải cách hành chính

  – Trước hết, phải hoàn thiện pháp luật về đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài. Cụ thể là phải sửa đổi, thay thế Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP theo hướng thông thoáng, cụ thể, dễ thực hiện trong cuộc sống và phù hợp thông lệ quốc tế, khắc phục những điểm chưa phù hợp. Quy định rõ ràng hơn về việc xác định tình trạng hôn nhân của các bên tham gia kết hôn, nhất là người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhưng trước khi xuất cảnh tại Việt Nam đã đủ tuổi kết hôn hoặc trường hợp kết hôn lần thứ hai trở lên phải có Bản án ly hôn hoặc giấy chứng tử, có quy định rõ ràng về trình độ ngôn ngữ giao tiếp chung, tìm hiểu về văn hoá, phong tục tập quán của quốc gia có người nước ngoài kết hôn với phụ nữ Việt Nam.

– Quá trình phỏng vấn cần được thực hiện một cách kỹ lưỡng để đảm bảo cuộc hôn nhân đó trên tinh thần tự nguyện, 2 bên đã có tìm hiểu về nhau, về gia đình, văn hóa đất nước mình sẽ sinh sống. Tránh trường hợp phỏng vấn qua loa, dễ bỏ sót các vụ mua bán người, kết hôn vì mục đích khác, ảnh hưởng tới cuộc sống của người phụ nữ về sau.

– Những trường hợp được ủy quyền trong kết hôn có yếu tố nước ngoài cần được siết chặt, cả hai bên đường sự buộc phải có mặt, trừ lý do chính đáng. Tránh tạo ra kẽ hở để các bên lợi dụng kết hôn giả hoặc môi giới trục lợi.

– Cần bổ sung quy định về việc từ chối đăng ký kết hôn trong các văn bản pháp luật, nếu qua kiểm tra xác minh mà thấy rằng việc kết hôn đó không phù hợp đạo đức, thuần phong mỹ tục. Việc này sẽ tăng cường quản lý Nhà nước, nâng cao hiệu quả của việc kết hôn có yếu tố nước ngoài.

– Cần có những thỏa thuận hợp tác giữa Việt Nam và nhiều quốc gia về lĩnh vực hôn nhân có yếu tố nước ngoài (đặc biệt là với những quốc gia có nhiều người lấy vợ Việt Nam), có những biện pháp thích hợp để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ Việt Nam, hạn chế trường hợp họ bị bóc lột sức lao động, bắt làm vợ chung… mà không ai hay biết để giúp đỡ.

– Rà soát cán bộ làm công tác tiếp nhận và giải quyết hồ sơ đăng ký kết hôn có yếu tố nước ngoài nhằm đảm bảo cán bộ có đủ năng lực chuyên môn và phẩm chất đạo đức.

– Chủ động cải cách mô hình “một cửa” ngày một tốt hơn trong lĩnh vực tư pháp nói chung và kết hôn theo Nghị định 69/2006/NĐ-CP nói riêng.

– Chú trọng rút ngắn thời gian giải quyết đăng ký kết hôn xuống còn 17 ngày làm việc, công khai hoá thủ tục, thời gian giải quyết và lệ phí đăng ký kết hôn.

5.Tuyên truyền và giáo dục

       – Tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người phụ nữ về phẩm chất đạo đức và truyền thống của người phụ nữ Việt Nam.

– Đẩy mạnh và duy trì thường xuyên công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình trên các địa bàn dân cư, nhất là các đối tượng phụ nữ nhập cư vào thành phố. Trên thực tế, đa số người kết hôn với người nước ngoài những năm gần đây là các cô gái từ các vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa, học vấn thấp, ít hiểu biết. Vì thế, các địa phương cần tích cực tổ chức cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, hạn chế tình trạng thiếu thông tin hoăc có thông tin sai lệch.

– Cần tăng cường việc khảo sát nắm tình hình gia đình có phụ nữ lấy chồng nước ngoài, tuyên truyền quy định pháp luật về bảo về quyền lợi, danh dự và nhân phẩm của phụ nữ. Vì phần lớn phụ nữ Việt Nam trước khi ra nước ngoài sinh sống cùng chồng chưa được tư vấn đầy đủ để có những hiểu biết cần thiết về pháp luật, ngôn ngữ và phong tục tập quán của nước sở tại.

6.Hình thành và phát triển các khu trung tâm tư vấn hôn nhân, bãi bỏ hoạt động môi giới.

  Hiện nay mô hình các trung tâm hỗ trợ kết hôn vẫn chưa được phổ biến, số lượng chỉ dừng lại ở con số rất khiêm tốn và chủ yếu được thành lập tại Thành phố Hồ Chí Minh, ở những tình khác thì rất ít.Một số người đã lợi dụng vào việc hướng dẫn hỗ trợ kết hôm để kiếm lời từ khách hàng có nhu cầu.Nghiêm trọng hơn là hành vi buôn bán phụ nữ, lừa đảo ẩn sau việc đăng ký kết hôn là dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự.

   Để khắc phục những hiện tượng tiêu cực đang diễn ra hiện nay và áp dụng đúng nội dung của quy định pháp luật về hỗ trợ kết hôn, cần phải tập trung vào xây dựng các trung tâm Tư vấn hỗ trợ kết hôn.Bên cạnh đó cần quan tâm hơn đến những đối tượng là phụ nữ, một trong những đối tượng chịu hậu quả từ môi giới bất hợp pháp, ảnh hưởng đến dư luận, nhân phẩm và cuộc sống của họ.

Những rủi ro khi người dân góp vốn mua nhà dự án
  • Để không bị mắc kẹt với các dự án nhà ở hình thành trong tương lai, người có nhu cầu mua căn hộ có thể thỏa thuận với chủ đầu tư và ngân hàng làm hợp đồng bảo lãnh ngân hàng. Hợp đồng này thể hiện, khi nào chủ đầu tư xây nhà xong thì ngân hàng sẽ trả hết tiền 1 lần cho chủ đầu tư. Với hợp đồng bảo lãnh này, người mua nhà không cần phải trả tiền theo từng đợt cho chủ đầu tư, mà mang tiền đó gửi tiết kiệm. Tuy nhiên, người mua nhà sẽ phải trả cho ngân hàng một khoảng phí lãi suất tượng trưng cho cái bảo lãnh ngân hàng đã ký. Điều này giúp người mua nhà không phải mất tiền nếu dự án rơi vào tranh chấp, cũng không phải sốt ruột nếu dự án chậm tiến độ, vì trong khoảng thời gian dự án kéo dài thì số tiền mua nhà vẫn phát sinh lãi từ ngân hàng. mua bán tài sản hình thành trong tương lai, tài sản chưa hiện hữu ở thời điểm xác lập hợp đồng thì khách hàng luôn là người bị động, có nhiều nguy cơ gánh chịu rủi ro vào bất cứ thời điểm nào. Các hình thức rủi ro, mức độ, hậu quả, thời điểm gặp rủi ro của người góp vốn mua nhà dự án khá đa dạng, cụ thể.
    Thứ nhất: Khách hàng có thể mất trắng toàn bộ số tiền đã nộp cho CĐT trong trường hợp CĐT lợi dụng hình thức huy động vốn, góp vốn vào dự án không có thật để chiếm đoạt tiền của khách hàng. Khi CĐT không sử dụng nguồn tiền này vào triển khai dự án mà sửdụng vào mục đích khác, bị thất thoát mất khả năng thu hồi thì khách hàng cũng mất cơ hội được hoàn lại khoản tiền đã góp.
    Thứ hai: Khách hàng có thể không bao giờ nhận được bàn giao nhà khi CĐT dự án có thật vi phạm các quy định của pháp luật về đầu tư xây dựng, về quản lý dự án dẫn đến hậu quả bị cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền thu hồi dự án. Trường hợp dự án bị thu hồi được giao lại cho CĐT khác mà CĐT cũ còn nguồn tiền bàn giao lại cho CĐT mới thì khách hàng còn cơ hội được nhận nhà. Nếu CĐT cũ không còn nguồn tiền thì khách hàng muốn được nhận nhà lại phải đóng góp tài chính cho CĐT mới, và rủi ro là mất khoản tiền đầu tư ban đầu.
    Thứ ba: Khách hàng không được nhận bàn giao nhà đúng tiến độ đã thỏa thuận trong hợp đồng góp vốn, do CĐT có thật sử dụng nguồn tiền huy động vốn của khách hàng không hiệu quả, hoặc đầu tư nhỏ giọt vào xây dựng dự án. Tuy không bị chiếm đoạt tiền góp vốn nhưng rủi ro, thiệt hại của khách hàng nằm ở chỗ tiền vốn đầu tư không hiệu quả, luôn bị động, chỉ biết chờ đợi ngày được
Thủ tục đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân

Cơ quan thực hiện : Sở tư pháp 

Yêu cầu : 

Những người sau đây không được đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân:

– Không đủ điều kiện quy định tại Điều 12 của Luật phá sản gồm:

+ Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

+ Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan;

+ Có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

– Thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 14 của Luật Phá sản gồm:

+ Cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân.

+ Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích; người đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

+ Người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

– Người đang bị cấm hành nghề quản lý, thanh lý tài sản theo bản án hay quyết định của Tòa án đã có hiệu lực.

Cách thức thực hiện : 

Người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân gửi hồ sơ qua đường bưu điện hoặc trực tiếp đến Sở Tư pháp và nộp lệ phí đăng ký hành nghề theo quy định của pháp luật.

Trường hợp người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân nộp hồ sơ trực tiếp tại Sở Tư pháp thì xuất trình bản chính chứng chỉ hành nghề Quản tài viên để đối chiếu.

Trường hợp người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân gửi hồ sơ qua đường bưu điện đến Sở Tư pháp khi có yêu cầu thì xuất trình bản chính chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Thành phần hồ sơ : 

– Giấy đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân.

– Bản chụp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Trong trường hợp cần thiết, người đề nghị đăng ký hành nghề quản lý, thanh lý tài sản với tư cách cá nhân nộp Phiếu lý lịch tư pháp theo yêu cầu của Sở Tư pháp.

Thời hạn giải quyết : 

Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp quyết định ghi tên người đề nghị đăng ký vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản và thông báo bằng văn bản cho người đó; trong trường hợp từ chối thì phải thông báo lý do bằng văn bản. Người bị từ chối có quyền khiếu nại, khởi kiện theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày quyết định ghi tên người đề nghị đăng ký vào danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, Sở Tư pháp gửi danh sách Quản tài viên, doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản cho Bộ Tư pháp.

Tách giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Câu hỏi: Bạn Trần Gia Linh ở Bắc Ninh có hỏi: Công ty tôi đang thực hiện thủ tục tách giấy chứng nhận đầu tư ra giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (vì luật mới bắt công ty phải có song song 2 giấy). Nhưng khi nộp hồ sơ họ có yêu cầu khi đi lấy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp thì phải nộp thông báo thay đổi mẫu dấu ( phụ lục II-9 thông tư 20). Luật sư cho tôi hỏi là công ty tôi không có thay đổi mẫu dấu vậy có cần phải nộp giấy này hay không?

lam-sao-khi-mat-giay-phep-dang-ky-kinh-doanh

Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Trả lời tư vấn: Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi về cho chúng tôi, Chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

Công ty bạn đang thực hiện tách giấy chứng nhận đầu tư ra giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, sau khi thay đổi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp quy định lại nội dung đăng ký kinh doanh đang có hiệu lực tại Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh); Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư quy định lại nội dung dự án đầu tư đang có hiệu lực tại Giấy phép đầu tư, Giấy chứng nhận đầu tư (đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh). Vì vậy khi quy định lại nội dung đăng ký kinh doanh theo quy định tại khoản 2, Điều 44, Luật DN 2014 và Khoản 4, Công văn 4211/BKHĐT- ĐKKD năm 2015 thì  trước khi sử dụng, doanh nghiệp gửi thông báo về mẫu con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện đến Phòng Đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Sau khi tách giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và giấy chứng nhận đầu tư riêng thì phải thực hiện thủ tục trả con dấu tại cơ quan công an. Sau khi trả con dấu xong, doanh nghiệp sẽ tiến hành khắc dấu và công bố mẫu dấu mới, nếu công ty bạn không có thay đổi mẫu dấu thì xin cấp lại mẫu dấu và làm thủ tục công bố tại Sở kế hoạc đầu tư. Vì vậy công ty bạn không thay đổi mẫu dấu nhưng vẫn phải nộp thông báo thay đổi mẫu dấu khi đi lấy giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Bố lạm dụng việc thăm nom để gây tác động xấu đến việc giáo dục con thì người mẹ có thể làm gì để ngăn chặn không ?

Câu hỏi :

Thưa Luật sư,
Tôi và chồng đã ly hôn được gần 2 năm. Khi ly hôn, Tòa án đã giao quyền nuôi con cho tôi. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện quyền thăm nom, chồng cũ của tôi thường xuyên lợi dụng việc này để nói xấu tôi, gây ảnh hưởng xấu đến tâm lý và sự phát triển của cháu.
Trong trường hợp này, tôi có thể làm gì để hạn chế hoặc yêu cầu Tòa án thay đổi quyền thăm nom của người cha nhằm bảo vệ con?

Trả lời : 

Theo quy định tại khoản 3 điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ và quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn quy định:

“Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.”

Như vậy, nếu người mẹ thấy việc người cha có hành vi lạm dụng việc thăm nom để gây tác động xấu đến con thì có thể yêu cầu tòa án hạn chế quyền thăm nom của người bố.

Trên đây là quan điểm trả lời của Luật Minh Bạch. Bài viết trên chỉ mang tính chất tham khảo, để được hỗ trợ và tư vấn cụ thể hơn, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng.

Sống chung với nhau như vợ chồng không đăng ký kết hôn phân chia tài sản chung như thế nào?

Câu hỏi : Tôi và anh D chung sống với nhau như vợ chồng không có đăng ký kết hôn đã được 6 năm nay. Anh D chết do tai nạ giao thông năm 2017 và không để lại di chúc. Vậy tài sản chung của tôi và anh D được giải quyết như thế nào?

Trả lời: Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi về cho chúng tôi. Luật sư xin giải đáp thắc mắc cho bạn như sau: 

Theo điều 16 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 về việc giải quyết quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được quy định như sau : 

“1. Quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên; trong trường hợp không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của Bộ luật dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

2. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.”

Ngoài ra, theo điều 7, nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính Phủ quy định chi tiết môt số điều và biện pháp thi hành luật Hôn nhân và gia đình, chế độ tài sản của vợ chồng theo luât định được áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản  nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định của Điều 50 luật hôn nhân và gia đình bao gồm : 

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

Trong trường hợp trên anh D chết do tai nạn giao thông và không để lại di chúc nên tài sản của anh D và chị sẽ được giải quyết  theo quy định của pháp luật và các văn bản pháp luật có liên quan. 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 16 nêu trên, Do anh D chết không thể thỏa thuận về việc chia tài sản chung thì sẽ áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự và các quy định khác của pháp luật có liên quan để giải quyết vấn đề tài sản chung. Điều 219 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về chia tài sản thuộc sở hữu chung như sau:

“1. Trường hợp sở hữu chung có thể phân chia thì mỗi chủ sở hữu chung đều có quyền yêu cầu chia tài sản chung; nếu tình trạng sở hữu chung phải được duy trì trong một thời hạn theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của luật thì mỗi chủ sở hữu chung chỉ có quyền yêu cầu chia tài sản chung khi hết thời hạn đó; khi tài sản chung không thể chia được bằng hiện vật thì chủ sở hữu chung có yêu cầu chia có quyền bán phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp các chủ sở hữu chung có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp có người yêu cầu một người trong số các chủ sở hữu chung thực hiện nghĩa vụ thanh toán và chủ sở hữu chung đó không có tài sản riêng hoặc tài sản riêng không đủ để thanh toán thì người yêu cầu có quyền yêu cầu chia tài sản chung và tham gia vào việc chia tài sản chung, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nếu không thể chia phần quyền sở hữu bằng hiện vật hoặc việc chia này bị các chủ sở hữu chung còn lại phản đối thì người có quyền có quyền yêu cầu người có nghĩa vụ bán phần quyền sở hữu của mình để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.”

Sai thẩm quyền ban hành: Văn bản của Bộ Xây dựng không có hiệu lực?

 

 

Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị vừa thay mặt Chính phủ, thừa ủy quyền Thủ tướng ký văn bản 333 đính chính Nghị định 35/2023 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng. Cụ thể, do sơ suất kỹ thuật, văn bản đính chính từ “Bãi bỏ khoản 2 điều 5, khoản 2 điều 9” thành “bãi bỏ khoản 2 điều 9”. Trong lĩnh vực pháp luật, việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về thẩm quyền của từng cơ quan. Chia sẻ với  Luật sư Trần Tuấn Anh (Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch) chia sẻ, văn bản 333 của Bộ Xây dựng dùng để đính chính Nghị định 35/2023 là không đúng quy định pháp luật, do Bộ không có thẩm quyền sửa đổi hay bổ sung Nghị định do Chính phủ ban hành. Việc này có thể dẫn đến việc văn bản không có hiệu lực pháp lý, và Bộ Tư pháp có quyền can thiệp để rà soát và xử lý.

Mời bạn đọc tìm hiểu thêm tại đây

Trong trường hợp có yêu cầu tư vấn về pháp luật, quý khách vui lòng liên hệ theo số điện thoại: 0986.931.555 – Luật sư Trần Tuấn Anh, Giám đốc Công ty Luật Minh Bạch sẽ tư vấn miễn phí cho quý khách. Trân trọng!

 

Điều 26 Bộ luật dân sự 2015

Chi tiết điều 26, Bộ luật dân sự 2015 như sau : 

Điều 26 : Quyền có họ, tên 

1. Cá nhân có quyền có họ, tên (bao gồm cả chữ đệm, nếu có)Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó.

2. Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tập quán. Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ của con được xác định theo họ của mẹ đẻ.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của cha nuôi hoặc họ của mẹ nuôi theo thỏa thuận của cha mẹ nuôi. Trường hợp chỉ có cha nuôi hoặc mẹ nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo họ của người đó.

Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi, chưa xác định được cha đẻ, mẹ đẻ và chưa được nhận làm con nuôi thì họ của trẻ em được xác định theo đề nghị của người đứng đầu cơ sở nuôi dưỡng trẻ em đó hoặc theo đề nghị của người có yêu cầu đăng ký khai sinh cho trẻ em, nếu trẻ em đang được người đó tạm thời nuôi dưỡng.

Cha đẻ, mẹ đẻ được quy định trong Bộ luật này là cha, mẹ được xác định dựa trên sự kiện sinh đẻ; người nhờ mang thai hộ với người được sinh ra từ việc mang thai hộ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.

3. Việc đặt tên bị hạn chế trong trường hợp xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác hoặc trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này.

Tên của công dân Việt Nam phải bằng tiếng Việt hoặc tiếng dân tộc khác của Việt Nam; không đặt tên bằng số, bằng một ký tự mà không phải là chữ.

4. Cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự theo họ, tên của mình.

5. Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

Thủ tục đăng ký sang tên xe cùng tỉnh

Kể từ 01/06/2014 Thông tư 15 chính thức có hiệu lực thay thế Thông tư 12 và không đề cập đến thời hạn sang tên đổi chủ xe qua nhiều chủ mà chỉ quy định về thủ tục như sau:

a) Trường hợp người đang sử dụng xe có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng, hồ sơ gồm:

– Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của Công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

– Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định.

– Chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe và chứng từ chuyển quyền sở hữu xe của người bán cuối cùng.

– Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15).

b) Trường hợp người đang sử dụng xe không có chứng từ chuyển quyền sở hữu xe, hồ sơ gồm:

– Giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15) có cam kết của người đang sử dụng xe chịu trách nhiệm trước pháp luật về xe làm thủ tục đăng ký, có xác nhận về địa chỉ thường trú của người đang sử dụng xe của Công an cấp xã nơi người đang sử dụng xe thường trú.

– Chứng từ nộp lệ phí trước bạ xe theo quy định.

– Giấy chứng nhận đăng ký xe. Trường hợp bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe phải trình bày rõ lý do trong giấy khai đăng ký sang tên, di chuyển xe (mẫu số 03 ban hành kèm theo Thông tư 15).

Bài viết cùng chủ đề

Bài viết mới nhất

video tư vấn

dịch vụ tiêu biểu

Bài viết xem nhiều

dịch vụ nổi bật